Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie <div>Tạp chí Khoa học Kinh tế và Quản lý là ấn phẩm khoa học chính thức của Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế hoạt động theo Giấy phép hoạt động báo in Số 568/GP-BTTTT ngày 26/10/2015 do Bộ trưởng Bộ TT&amp;TT và Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia – Bộ KH&amp;CN cấp mã số ISSN 2354-1350 ngày 11/11/2015. Đến ngày 15/9/2025, <strong>Tạp chí được cấp Giấy phép hoạt động tạp chí in và tạp chí điện tử</strong> số <strong>128/GP-BVHTTDL</strong> của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.</div> <div> </div> <p>Theo Quyết định số 25/QĐ-HĐGSNN của Hội đồng Giáo sư Nhà nước phê duyệt Tạp chí Khoa học Quản lý &amp; Kinh tế của Trường ĐH Kinh tế được tính điểm công trình, với mức điểm 0 – 0,75 điểm.</p> University of Economics, Hue University vi-VN Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế 2354-1350 Tác động của rủi ro địa chính trị đến đầu tư quốc gia – Nghiên cứu trường hợp các quốc gia OECD https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie/article/view/569 <p>Nghiên cứu đánh giá tác động của rủi ro địa chính trị đối với tổng đầu tư quốc gia tại 25 nước OECD trong giai đoạn 2000-2023. Bằng việc áp dụng phương pháp hồi quy GLS trên bộ dữ liệu bảng, nghiên cứu đã khắc phục triệt để hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan, đảm bảo tính không chệch và độ tin cậy cao cho các ước lượng. Kết quả thực nghiệm cho thấy rủi ro địa chính trị có tác động ngược chiều đối với đầu tư của các quốc gia. Các biến kiểm soát như FDI, lực lượng lao động, độ mở thương mại, lạm phát và tăng trưởng GDP đều thúc đẩy đầu tư, trong khi chi tiêu chính phủ làm giảm đầu tư. Những phát hiện này cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng về vai trò của bất ổn địa chính trị đối với đầu tư của các quốc gia, là cơ sở để đưa ra các khuyến nghị chính sách.</p> <p>Từ khóa: Rủi ro địa chính trị; Đầu tư quốc gia; OECD, Đầu tư trực tiếp nước ngoài.</p> Huyền Trang Lưu Đặng Thùy Dương Lương Thị Thùy Trang Lưu Thị Thanh Huyền Nguyễn Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế 2026-03-30 2026-03-30 37 01 13 10.67003/HJEM.2026.VN.37.01-13 Đầu tư công nghệ và giá trị thị trường của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của quy mô https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie/article/view/597 <p>Nghiên cứu này đánh giá tác động của đầu tư công nghệ đến giá trị thị trường của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đồng thời xem xét vai trò điều tiết của quy mô ngân hàng trong mối quan hệ này. Dựa trên bộ dữ liệu bảng gồm 26 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2015-2024, nghiên cứu ước lượng mô hình tác động cố định với sai số chuẩn Driscoll-Kraay nhằm kiểm soát ảnh hưởng của phương sai sai số thay đổi, tự tương quan và phụ thuộc chéo. Kết quả cho thấy đầu tư công nghệ có tác động cùng chiều đến giá trị thị trường của ngân hàng, được đo lường thông qua chỉ số Tobin’s q. Tuy nhiên, quy mô ngân hàng điều tiết ngược chiều mối quan hệ này, hàm ý rằng lợi ích biên của đầu tư công nghệ đối với giá trị thị trường có xu hướng suy giảm khi quy mô ngân hàng tăng lên. Kết quả nghiên cứu gợi ý rằng các ngân hàng thương mại cần lựa chọn chiến lược đầu tư công nghệ phù hợp với quy mô, năng lực tổ chức và mức độ sẵn sàng hấp thụ công nghệ nhằm tối ưu hóa giá trị thị trường.</p> <p> </p> Minh Đức Trịnh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế 2026-03-30 2026-03-30 37 14 24 10.67003/HJEM.2026.VN.37.14-24 Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp: Nghiên cứu trường hợp Trường Kinh tế, Đại học Cần Thơ https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie/article/view/563 <p>Bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực, thông qua nghiên cứu trường hợp Trường Kinh tế, Đại học Cần Thơ. Trên cơ sở kết hợp Lý thuyết Vốn xã hội, Lý thuyết Các bên liên quan và Lý thuyết Lan tỏa Tri thức Khởi nghiệp, nghiên cứu đề xuất mô hình gồm các yếu tố: niềm tin, trách nhiệm xã hội, tương đồng về văn hóa tổ chức, lợi ích từ liên kết, quy mô doanh nghiệp và số năm hoạt động. Dữ liệu bài viết được thu thập từ 152 doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Bài viết sử dụng Cronbach’s alpha để kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá và phân tích biệt số nhằm đánh giá sự khác biệt giữa doanh nghiệp đã liên kết và chưa liên kết. Kết quả cho thấy các yếu tố nêu trên đều khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm; trong đó yếu tố niềm tin, trách nhiệm xã hội và lợi ích tuyển dụng và đào tạo có vai trò nổi bật hơn so với các đặc điểm doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm tăng cường liên kết giữa Trường Kinh tế, Đại học Cần Thơ với các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố.</p> Công Thành Đinh Lê Hồng Nhung Phạm Duyên Thư Tất Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế 2026-03-30 2026-03-30 37 25 36 Nghiên cứu tác động của chia sẻ tri thức đến năng lực số của người lao động và chuyển đổi số tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam khu vực phía Bắc https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie/article/view/573 <p>Nghiên cứu này xem xét tác động của chia sẻ tri thức đến năng lực số của người lao động và chuyển đổi số trong các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Với lý thuyết dựa trên tri thức và lý thuyết khả năng hấp thụ, nghiên cứu đề xuất và kiểm định mô hình trung gian, trong đó năng lực số đóng vai trò là cơ chế liên kết giữa chia sẻ tri thức và chuyển đổi số. Dữ liệu được thu thập từ 257 người lao động ngân hàng và được phân tích bằng PLS-SEM. Kết quả cho thấy chia sẻ tri thức có tác động tích cực đến cả năng lực số của người lao động và chuyển đổi số của ngân hàng. Đồng thời, năng lực số ảnh hưởng thuận chiều đến chuyển đổi số và đóng vai trò trung gian một phần trong mối quan hệ giữa chia sẻ tri thức và chuyển đổi số. Từ kết quả trên, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị giúp chuyển hóa tri thức được chia sẻ thành kết quả chuyển đổi số thông qua năng lực số của người lao động.</p> Quang Huy Lại Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế 2026-03-30 2026-03-30 37 37 48 Ảnh hưởng của nhận thức sự hỗ trợ từ cấp trên đến cam kết tình cảm: Vai trò trung gian của an toàn tâm lý ở nhân viên thế hệ Gen Z trong các ngành dịch vụ sáng tạo tại Thành phố Hồ Chí Minh https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie/article/view/513 <p>Nghiên cứu này nhằm khám phá mối quan hệ giữa nhận thức sự hỗ trợ từ cấp trên (PSS) và cam kết tình cảm của nhân viên (AC), đồng thời kiểm định vai trò trung gian của an toàn tâm lý (PS) trong mối quan hệ này. Dữ liệu được thu thập từ 380 nhân viên thế hệ Gen Z đang làm việc tại các công ty về dịch vụ sáng tạo ở TP. Hồ Chí Minh thông qua bảng hỏi chuẩn hóa. Phương pháp phân tích sử dụng gồm kiểm định thang đo, phân tích nhân tố khám phá, phân tích nhân tố khẳng định và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS và AMOS. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng PSS có ảnh hưởng trực tiếp tích cực đến AC và PS; đồng thời, PS cũng có tác động tích cực đến AC. Đặc biệt, PS đóng vai trò trung gian một phần trong mối quan hệ giữa PSS và AC, cho thấy các yếu tố tâm lý đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa hành vi lãnh đạo thành cam kết tình cảm của nhân viên. Kết quả này góp phần làm rõ cơ chế tác động gián tiếp của hành vi lãnh đạo trong bối cảnh lao động trẻ, từ đó gợi ý cho doanh nghiệp về việc xây dựng môi trường làm việc an toàn tâm lý và phát triển phong cách lãnh đạo hỗ trợ để nâng cao sự gắn bó của nhân viên Gen Z.</p> Đình Hòa Nguyễn Bá Thành Vũ Thị Thật Phạm Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế 2026-03-30 2026-03-30 37 49 61 Tác động của nhận thức về sự khan hiếm (perceived scarcity) lên hành vi mua hàng ngẫu hứng trên sàn thương mại điện tử của giới trẻ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh: Vai trò trung gian của hiệu ứng tâm lý FOMO https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie/article/view/464 <p>Nghiên cứu đánh giá tác động của nhận thức về sự khan hiếm đến hành vi mua hàng ngẫu hứng trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) của giới trẻ tại TP.HCM. Từ đó, đưa ra các khuyến nghị giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chiến lược tiếp thị - bán hàng một cách phù hợp và có trách nhiệm trên sàn TMĐT. Nghiên cứu sử dụng mô hình S-O-R và dựa trên dữ liệu khảo sát 217 người trong độ tuổi từ 18 đến 27 tuổi, đang mua sắm trên các sàn TMĐT tại TP.HCM, được phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức về sự khan hiếm có tác động tích cực đến hành vi mua hàng ngẫu hứng, đồng thời khẳng định vai trò trung gian của hiệu ứng tâm lý FOMO. Ngoài ra, không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo giới tính và trình độ học vấn, nhưng có sự khác biệt giữa các nhóm độ tuổi và thu nhập. Nghiên cứu góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm và mở rộng ứng dụng mô hình S-O-R trong bối cảnh hành vi tiêu dùng trên nền tảng TMĐT tại Việt Nam.</p> Thị Oanh Nguyễn Thị Thủy Tiên Đặng Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế 2026-03-30 2026-03-30 37 62 73 Ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ chatbot trí tuệ nhân tạo đến lòng trung thành của người tiêu dùng trực tuyến thế hệ Z https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie/article/view/584 <p>Thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng và mô hình cấu trúc tuyến tính dựa trên dữ liệu khảo sát từ 328 người tiêu dùng thế hệ Z, bài viết đã kiểm chứng ảnh hưởng của năm thành phần chất lượng dịch vụ chatbot trí tuệ nhân tạo (chatbot AI) – sau khi loại bỏ yếu tố “tính sẵn có” ở bước phân tích nhân tố khám phá – đến lòng trung thành, với biến trung gian là niềm tin dịch vụ chatbot AI. Kết quả thực chứng cho thấy cả năm yếu tố này đều có tác động thuận chiều và có ý nghĩa thống kê đến niềm tin dịch vụ chatbot AI, từ đó thúc đẩy mạnh mẽ lòng trung thành của người tiêu dùng. Trong đó, cá nhân hóa và bảo mật được xác định là hai tiền đề quan trọng nhất trong việc kiến tạo nên niềm tin dịch vụ chatbot AI. Phát hiện này làm sáng tỏ cơ chế truyền dẫn gián tiếp của niềm tin dịch vụ chatbot AI, khẳng định rằng đối với người tiêu dùng thế hệ Z, sự gắn kết bền vững với nền tảng không chỉ đến từ tiện ích công nghệ mà còn từ niềm tin vào năng lực và tính minh bạch của dịch vụ AI. Dựa trên kết quả thu được, nghiên cứu đề xuất các hàm ý quản trị quan trọng, nhấn mạnh việc các sàn giao dịch thương mại điện tử cần tập trung tối ưu hóa trải nghiệm</p> Thị Thanh Nga Bùi Trọng Hùng Hoàng Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế 2026-03-30 2026-03-30 37 74 84 Quyết định sử dụng Wi-Fi 6 tại thành phố Huế: Tiếp cận kết hợp hồi quy logistic và fsQCA https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie/article/view/566 <p>Nghiên cứu này phân tích các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng dịch vụ WiFi 6 của khách hàng tại Thành phố Huế. Dữ liệu khảo sát 170 khách hàng được phân tích bằng cách kết hợp hồi quy Logistic và phương pháp so sánh định tính mờ (fsQCA) nhằm làm rõ tác động ròng của từng yếu tố và các cấu hình nguyên nhân dẫn đến quyết định sử dụng. Kết quả hồi quy cho thấy các yếu tố nghiên cứu đều có tác động ròng tích cực đến quyết định sử dụng, trong đó nhận thức hữu ích và ảnh hưởng xã hội đóng vai trò nổi bật. Phân tích fsQCA bổ sung góc nhìn về tính bất đối xứng trong hành vi khách hàng khi xác định một cấu hình nguyên nhân cho thấy người dùng vẫn sẵn sàng chấp nhận dịch vụ có mức độ dễ sử dụng thấp nếu dịch vụ đó mang lại giá trị hữu ích vượt trội và được xã hội công nhận. Kết quả nghiên cứu cung cấp hàm ý quản trị cho các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông trong việc xây dựng chiến lược sản phẩm phù hợp với bối cảnh địa phương</p> <p> </p> Văn Hoà Trần Thị Nhật Anh Trần Quốc Tuấn Hồ Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế 2026-03-30 2026-03-30 37 85 96 Giải pháp kè kiểm soát ngập trong bối cảnh liên vùng: Mức sẵn lòng chi trả theo đặc điểm của hộ gia đình https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie/article/view/574 <p>Nghiên cứu ước lượng mức sẵn lòng chi trả (WTP) của hộ gia đình tại Cần Thơ cho giải pháp kè kiểm soát ngập tại An Giang, như một biện pháp công trình nhằm giảm ngập cho khu vực hạ lưu. Phương pháp định giá ngẫu nhiên được sử dụng để xác định mức độ sẵn lòng chi trả, trong khi Thuyết Động lực Bảo vệ cung cấp cơ sở lý thuyết để phân tích các yếu tố tâm lý và hành vi của các hộ gia đình. Kết quả cho thấy các hộ dân tại Cần Thơ sẵn sàng đóng góp tài chính cho việc triển khai kè kiểm soát ngập ở khu vực thượng nguồn. WTP có sự phân hóa theo đặc điểm kinh tế - xã hội, hành vi ứng phó và mức độ nhận thức rủi ro ngập trong quyết định cư trú. Phát hiện này hàm ý rằng hợp tác liên vùng và cơ chế chia sẻ lợi ích, như chi trả dịch vụ hệ sinh thái lưu vực, có thể góp phần nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro ngập. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực nghiệm cho việc xây dựng chiến lược giảm ngập tích hợp và bền vững tại các vùng châu thổ tương tự.</p> Hoàng Diễm My Nguyễn Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế 2026-03-30 2026-03-30 37 97 108