https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie/issue/feed Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế 2026-09-14T15:14:40+07:00 HUE Journal of Economics and Management tapchiquanlykinhte@hce.edu.vn Open Journal Systems <div>Tạp chí Khoa học Kinh tế và Quản lý là ấn phẩm khoa học chính thức của Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế hoạt động theo Giấy phép hoạt động báo in Số 568/GP-BTTTT ngày 26/10/2015 do Bộ trưởng Bộ TT&amp;TT và Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia – Bộ KH&amp;CN cấp mã số ISSN 2354-1350 ngày 11/11/2015. Đến ngày 15/9/2025, <strong>Tạp chí được cấp Giấy phép hoạt động tạp chí in và tạp chí điện tử</strong> số <strong>128/GP-BVHTTDL</strong> của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.</div> <div> </div> <p>Theo Quyết định số 25/QĐ-HĐGSNN của Hội đồng Giáo sư Nhà nước phê duyệt Tạp chí Khoa học Quản lý &amp; Kinh tế của Trường ĐH Kinh tế được tính điểm công trình, với mức điểm 0 – 0,75 điểm.</p> https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie/article/view/586 Tác động của hạn chế tài chính và lương CEO đến hành vi tẩy xanh của doanh nghiệp 2026-06-24T08:29:33+07:00 Nhật Vy Nguyễn b2300114@student.tdtu.edu.vn Ngọc Kim Thư Trần b2300091@student.tdtu.edu.vn Nhật Tuấn Phạm phamnhattuan@tdtu.edu.vn <p><em>Nghiên cứu này xem xét liệu hạn chế tài chính và cấu trúc thù lao của CEO có ảnh hưởng đến xu hướng doanh nghiệp thực hiện tẩy xanh như một chiến lược nhằm duy trì tính chính đáng và khả năng tiếp cận nguồn vốn hay không. Sử dụng phương pháp ước lượng Difference GMM trên mẫu các doanh nghiệp tại các nền kinh tế mới nổi Châu Á giai đoạn 2013–2023, kết quả thực nghiệm cho thấy hạn chế tài chính làm gia tăng đáng kể hành vi “tẩy xanh”. Đồng thời, thù lao của CEO có mối quan hệ phi tuyến dạng chữ U ngược với hành vi này. Những phát hiện này đóng góp cho tài liệu nghiên cứu bằng cách kết hợp lý thuyết đại diện và lý thuyết quản lý cấp cao, đồng thời hàm ý rằng các nhà hoạch định chính sách và nhà đầu tư cần tăng cường cơ chế giám sát ESG cũng như thiết kế cấu trúc thù lao điều hành phù hợp nhằm hạn chế các hành vi “tẩy xanh” của doanh nghiệp.</em></p> 2026-06-30T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie/article/view/593 Phát triển công cụ đo lường tác động của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính: Nghiên cứu sơ bộ tại các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh 2026-07-01T08:00:25+07:00 Thị Thủy Hưởng Nguyễn nguyenthithuyhuong@tckt.edu.vn <p><em>Mục tiêu của nghiên cứu này là phát triển và bước đầu đánh giá thang đo cho hai khái niệm: Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong kế toán-tài chính và Chất lượng thông tin báo cáo tài chính (BCTC). Thang đo sơ bộ được xây dựng từ lý thuyết, hiệu chỉnh qua phỏng vấn 10 chuyên gia và khảo sát thử trên 50 doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM). Kết quả phân tích sơ bộ cho thấy cả hai thang đo đều có độ tin cậy chấp nhận được (Cronbach's Alpha &gt; 0,87). Phân tích nhân tố khám phá (EFA) trên mẫu nhỏ cho thấy tiềm năng về cấu trúc đơn hướng của từng thang đo. Nghiên cứu cung cấp một công cụ đo lường ở giai đoạn phát triển ban đầu, tạo nền tảng vững chắc cho các nghiên cứu định lượng quy mô lớn tiếp theo nhằm kiểm định mối quan hệ giữa AI và chất lượng thông tin BCTC</em><em>.</em></p> 2026-06-30T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie/article/view/595 Đa dạng hóa ban điều hành và năng lực đổi mới sáng tạo kép tại các doanh nghiệp gia đình 2026-06-09T14:07:18+07:00 Tấn Hiệp Nguyễn nth10mpo@bolton.ac.uk Thái Dung Nguyễn dungnt3@vhu.edu.vn Thế Duy Dương duongtheduy@gmail.com <p><em>Nghiên cứu này khám phá tác động của sự đa dạng trong ban điều hành (thông qua sự tham gia của nhiều thế hệ và nhà quản lý ngoài gia đình) đến năng lực đổi mới sáng tạo kép tại các doanh nghiệp gia đình. Dựa trên khảo sát định lượng 258 doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) tại TP.HCM và phân tích bằng mô hình PLS-SEM, kết quả cho thấy sự đa dạng ban lãnh đạo có tác động tích cực và trực tiếp đến năng lực đổi mới sáng tạo kép. Bên cạnh đó, phạm vi đổi mới mở đóng vai trò trung gian một phần, còn năng lực hấp thụ giúp điều tiết tích cực ảnh hưởng của đổi mới mở lên cả đổi mới khám phá và khai thác. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý quản trị giúp doanh nghiệp tối ưu nguồn lực và phát triển bền vững.</em></p> 2026-06-30T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie/article/view/600 Quản trị hành chính công sau sáp nhập phường, xã ở Thành phố Huế: Thực trạng và hàm ý chính sách 2026-06-30T10:28:57+07:00 Hữu Lợi Nguyễn nguyenhuuloi@hce.edu.vn <p><em>Sắp xếp đơn vị hành chính (ĐVHC) cấp phường, xã trên phạm vi cả nước và thành phố Huế nói riêng là một bước ngoặt chiến lược trong lộ trình xây dựng mô hình chính quyền địa phương 02 cấp nhằm tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị công. Tại thành phố Huế, quá trình sáp nhập từ 133 đơn vị xuống còn 40 ĐVHC mới, đạt tỷ lệ tinh giảm cơ học lên đến 69,92% (Quốc hội, 2025a). Dựa trên dữ liệu thứ cấp và các văn bản chính thống, nghiên cứu đánh giá thực trạng bước đầu sử dụng nguồn lực đất đai, dân số và mức độ đồng thuận xã hội cao (99,21%) (Chính phủ, 2025). Tuy nhiên, sau sáp nhập, thành phố đối mặt với các thách thức lớn như quản lý 138 cơ sở nhà đất dôi dư, áp lực tinh giản biên chế và rào cản địa lý tại các "siêu đơn vị" mới hình thành (UBND thành phố Huế, 2025). Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hàm ý chính sách về kiện toàn nhân sự nòng cốt, đẩy mạnh chính quyền số và xử lý hiệu quả tài sản công để đảm bảo bộ máy hành chính mới vận hành thông suốt và hiệu quả.</em></p> 2026-06-30T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie/article/view/612 Phát triển kinh tế đô thị trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại Thành phố Huế 2026-07-28T10:51:37+07:00 Hồ Minh Trang Nguyễn nhmtrang@hce.edu.vn Văn Sơn Trịnh tvson@hce.edu.vn <p><em>Việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp từ năm 2025 tạo ra những thay đổi đáng kể trong cơ chế quản trị, phân cấp và điều phối phát triển ở các đô thị Việt Nam. Đối với Thành phố Huế, một đô thị trực thuộc Trung ương có đặc trưng di sản, văn hóa và sinh thái, vấn đề đặt ra không chỉ là tinh gọn bộ máy mà còn là khả năng chuyển đổi mô hình quản trị thành động lực cho phát triển kinh tế đô thị. Bài viết phân tích thực trạng phát triển kinh tế đô thị Thành phố Huế giai đoạn 2021–2025 và nhận diện những yêu cầu đặt ra đối với phát triển kinh tế đô thị trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh, tổng hợp và phân tích chính sách trên cơ sở dữ liệu từ niên giám thống kê, báo cáo kinh tế – xã hội và các văn bản chính sách liên quan. Kết quả cho thấy kinh tế Huế có xu hướng phục hồi và chuyển dịch theo hướng gia tăng vai trò của dịch vụ và công nghiệp – xây dựng, trong đó du lịch tiếp tục là một động lực quan trọng; tuy nhiên, quy mô kinh tế, khả năng thu hút đầu tư, liên kết không gian phát triển và hiệu quả phối hợp quản trị vẫn còn những hạn chế. Trên cơ sở đó, bài viết đã đề xuất các hàm ý chính sách nhằm tạo động lực mới cho phát triển kinh tế đô thị Thành phố Huế trong mô hình chính quyền hai cấp.</em></p> 2026-06-30T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie/article/view/622 Tác động của các hoạt động ESG ngân hàng đến quyết định lựa chọn ngân hàng của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 2026-07-28T09:28:45+07:00 Vương Thành Long Nguyễn nguyenlongkt@gmail.com <p><em>Nghiên cứu kiểm định vai trò của các hoạt động môi trường, xã hội và quản trị (ESG) của ngân hàng trong quyết định lựa chọn ngân hàng của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam, đồng thời so sánh mức tác động của ESG với chất lượng dịch vụ, năng lực số hóa và uy tín thương hiệu quốc tế, cũng như kiểm định sự khác biệt theo nhóm xuất xứ FDI. Dữ liệu từ 354 nhà quản lý tài chính cấp cao được phân tích bằng mô hình cấu trúc bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM); giả thuyết về khác biệt nhóm được đánh giá sau kiểm định bất biến đo lường MICOM bằng kiểm định hoán vị đa nhóm. Kết quả cho thấy hoạt động ESG ngân hàng có tác động mạnh nhất đến quyết định lựa chọn ngân hàng (β = 0,436; p &lt; 0,001; f² = 0,299), tiếp theo là chất lượng dịch vụ (β = 0,204) và uy tín thương hiệu quốc tế (β = 0,195). Năng lực số hóa có ý nghĩa thống kê (β = 0,092; p = 0,029) nhưng kích thước hiệu ứng không đáng kể (f² = 0,013). Phân tích đa nhóm không phát hiện khác biệt có ý nghĩa của tác động ESG ở các so sánh đáp ứng điều kiện bất biến đo lường; do đó H5 không được ủng hộ. Về lý thuyết, kết quả cho thấy tín hiệu ESG cung cấp giá trị giải thích bổ sung cho các tiêu chí lựa chọn ngân hàng truyền thống trong quan hệ ngân hàng - doanh nghiệp, trong khi nhóm xuất xứ chưa thể hiện vai trò điều kiện biên đối với tác động ESG trong mẫu nghiên cứu.</em></p> 2026-06-30T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie/article/view/624 Ảnh hưởng của ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông đến giảm nghèo đa chiều ở Việt Nam 2026-08-25T07:31:09+07:00 Thanh Mai Hàn thanhmaihan96@gmail.com <p><em>Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của công nghệ thông tin và truyền thông đến công tác giảm nghèo đa chiều trên địa bàn các tỉnh của Việt Nam. Bằng việc sử dụng dữ liệu bảng cho 63 tỉnh, thành phố trong giai đoạn 2016-2023 và sử dụng phương pháp ước lượng GLS, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông có ảnh hưởng tích cực đến công tác giảm nghèo đa chiều ở các tỉnh. Bên cạnh đó, các yếu tố khác như độ mở thương mại, GDP bình quân đầu người và phát triển công nghiệp của từng địa phương đều có ảnh hưởng đến tỷ lệ hộ nghèo đa chiều. Trên cơ sở kết quả này, nghiên cứu đề xuất các địa phương cần ưu tiên xây dựng hạ tầng số, nâng cao nhận thức của người dân trong việc sử dụng hiệu quả internet và các dịch vụ điện tử, đồng thời đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Ngoài ra, việc chủ trọng phát triển kinh tế, đặc biệt là mở cửa thương mại trong thời điểm hội nhập hiện nay cần song hành và linh hoạt với việc phát triển công nghiệp địa phương để hạn chế ở mức thấp nhất ảnh hưởng tiêu cực đến công tác giảm nghèo đa chiều.</em></p> 2026-06-30T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie/article/view/648 Nghiên cứu ý định hành vi đối với chatbot trên nền tảng dịch vụ công trực tuyến 2026-08-24T15:18:33+07:00 Xuân Cù Lê cu.lx@tmu.edu.vn Quốc Huy Nguyễn nqhuy.is249@tmu.edu.vn Đức Mạnh Trịnh TDManh.IS206@tmu.edu.vn Ngọc Đạt Lại LNDat.IS012@tmu.edu.vn Thúy Kim Chi Nguyễn NTKChi.IS065@tmu.edu.vn <p><em>Bài viết giải thích ý định hành vi với chatbot cho dịch vụ công trực tuyến (DVCTT). Một mô hình đã được thiết lập trên cơ sở sự kết hợp giữa lý thuyết thành công của hệ thống thông tin (D&amp;M) và mô hình chấp nhận thông tin (IAM). Bài viết áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với bảng hỏi trực tuyến để thu thập dữ liệu từ 329 đáp viên thông qua phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Dữ liệu được xử lý bằng phương pháp PLS-SEM. Kết quả thực nghiệm cho thấy sự tin tưởng vào thông tin, chất lượng thông tin, và độ tin cậy nguồn tác động đến cảm nhận hữu ích thông tin. Trong khi, chất lượng thông tin và hệ thống, và độ tin cậy nguồn là các chỉ dấu tác động ý nghĩa nhất đến sự tin tưởng vào thông tin. Đồng thời, cảm nhận hữu ích, sự tin tưởng vào thông tin, và năng lực nội tại là các động lực chính của ý định hành vi với chatbot. Bài viết rút ra hàm ý học thuật và thực tiễn nhằm giúp các cơ quan quản lý nâng cao chất lượng và tăng cường niềm tin của cộng đồng với chatbot</em><em>.</em></p> <p>t.</p> 2026-06-30T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế https://jem.hce.edu.vn/index.php/vie/article/view/628 Mối quan hệ giữa độ mở thương mại và chất lượng môi trường: Bằng chứng thực nghiệm tại khu vực châu Á 2026-09-14T15:14:40+07:00 Vũ Ngô vunckhtdmu@gmail.com Thị Thúy Kiều Võ kieuvtt@tdmu.edu.vn Văn Phát Lê 2323401220054@student.tdmu.edu.vn Công Thành Phạm 2323401220063@student.tdmu.edu.vn <p>Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá tác động của độ mở thương mại và tăng trưởng kinh tế đến chất lượng môi trường tại 37 quốc gia Châu Á giai đoạn 2010 - 2023. Áp dụng phương pháp ước lượng moment tổng quát (Generalized Method of Moments-GMM), kết quả thực nghiệm cho thấy độ mở thương mại, tăng trưởng kinh tế, FDI và cường độ tiêu thụ năng lượng có tác động tích cực đến chất lượng môi trường, với ý nghĩa thống kê ở mức 10. Ngoài ra, nghiên cứu khẳng định sự tồn tại của Đường cong Kuznets Môi trường (EKC) dạng chữ U ngược; hay nói một cách khác tăng trưởng kinh tế ở giai đoạn đầu sẽ gia tăng ô nhiễm môi trường song về dài hạn chính tăng trưởng lại tạo ra động lực để cải thiện môi trường. Tuy nhiên, nhân tố đô thị hóa chưa cho thấy tác động trong mô hình. Từ góc độ chính sách, nghiên cứu nhấn mạnh rằng tự do hóa thương mại và chuyển dịch cơ cấu thu nhập là hai yếu tố quan trọng giúp các quốc gia châu Á hiện thực hóa mục tiêu trung hòa carbon và phát triển bền vững trong dài hạn.</p> 2026-06-30T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế